BỆNH TRĨ - Trị Bệnh Trĩ

0888 999 126

BỆNH TRĨ

” Thập nhân cửu trĩ” tức là 10 người thì 9 người có biểu hiện của trĩ xuất hiên trong đời 

Ngày nay, cuộc sống ít vận động cùng với chế độ ăn ít chất xơ khiến nhiều người có khả năng mắc bệnh trĩ rất cao. Vậy làm thế nào để nhận biết các triệu chứng của bệnh trĩ và cách điều trị để bảo vệ sức khoẻ của bạn?

BỆNH TRĨ LÀ GÌ ?

Bệnh trĩ hay còn gọi là lòi dom. Bệnh trĩ được hình thành do sự dãn nở quá mức các mao mạch, tĩnh mạch ở trĩ. Bệnh khá phổ biến, từ già trẻ gái trai đều có nguy cơ mắc phải. Mà chủ yếu là thường hay xuất hiện tại người luôn làm việc với tư thế cố định như lái xe, thợ may, người đứng canh… hay phải dùng nhiều sức lực như người khuân vác, nông dân, vận động viên ở tuổi trung niên.
 Tỷ lệ mắc trĩ ở Việt Nam hiện nay lên tới 40-50% . Một nghiên cứu mới đây ở các tỉnh phía Bắc cho thấy, có tới 65% dân số mắc bệnh trĩ. Vậy nguyên nhân do đâu dẫn tới bệnh trĩ?

PHÂN LOẠI BỆNH TRĨ

BỆNH TRĨ NGOẠI

Trĩ ngoại là dạng trĩ nằm ở phí dưới đường lược, nằm ở bên ngoài hậu môn mà không thể nhét vào bên trong hậu môn được. Bạn có thể quan sát bằng mắt thường sẽ thấy những búi trĩ bên ngoài lỗ hậu môn.

BỆNH TRĨ NỘI

Trĩ nội là khi bên trong hậu môn của bệnh nhân xuất hiện những búi trĩ gây đau, rát và làm chảy máu khi người bệnh đại tiện. Các búi trĩ thậm chí có thể trồi ra ngoài hậu môn và tự co trở lại bên trong. Khi trĩ nội trở nặng thì các búi trĩ thậm chí không thể thụt vào lại được.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TRĨ

Khi bệnh tiến triển lâu ngày, phần trĩ nội và phần trĩ ngoại sẽ liên kết với nhau, tạo thành trĩ hỗn hợp.​

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TRĨ

RỐI LOẠN TIÊU HÓA

Do thường xuyên ăn đồ cay nóng, dẫu mỡ, thức ăn nhanh, đồ uống có ga và các chất kích thích khiến dạ dày khó co bóp gây nên tình trạng thức ăn khó tiêu hóa dẫn tới táo bón.

TÂM SINH LÝ

Bực bội buồn vui quá mức, lao động trí óc căng thẳng.

TUỔI TÁC

Tuổi càng nhiều càng dễ mắc bệnh trĩ.

NGHỀ NGHIỆP

Ngồi nhiều, đứng nhiều, ít hoạt động, lao động nặng nhọc.

KHÍ HẬU NHIỆT ĐỚI

Mưa nhiều, ẩm ướt, thay đổi thời tiết.

BIẾN CHỨNG BỆNH

Các bệnh về hậu môn trực tràng, viêm đại tràng mãn, lỵ amip mãn tính…

YẾU TỐ DI TRUYỀN

Xảy ra nếu bệnh nhân mắc bệnh mất van tĩnh mạch, là loại bệnh di truyền.

NGUYÊN NHÂN KHÁC

Có thai, béo phì, đái tháo đường, lười vận động, chế độ ăn uống không hợp lý…

BIẾN CHỨNG NGUY HIỂM CỦA BỆNH TRĨ

Nhiễm trùng máu

Rối loạn chức năng hậu môn

Hoại tử dẫn đến viêm nhiễm

Viêm nhiễm phụ khoa ở nữ

Thiếu máu

Tắc mạch trĩ

AI HAY BỊ TRĨ

1 Người lớn tuổi

2 Phụ nữ mang thai và cho con bú

3 Những người bị kiết lỵ, táo bón kinh niên, mắc các bệnh như hội chứng ruột kích thích, tăng áp lực trong ổ bụng, u bướu vùng hậu môn trực tràng…

4 Người phải đứng, ngồi lâu một chỗ, ít vận động

5 Những người thường xuyên sử dụng chất kích thích: thuốc lá, rượu bia…

BỆNH TRĨ Ở PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ

Bệnh trĩ và quá trình sinh đẻ

Khi mang bầu, thai phát triển to, đè lên vùng bụng làm các mạch máu bị chèn ép, các tĩnh mạch ở tầng sinh môn và đáy chậu cũng bị chèn ép, khó lưu thông dẫn đến cương lên, tạo thành búi trĩ. Bên cạnh đó, rối loạn tiêu hóa khi mang thai như táo bón cũng dễ gây ra bệnh trĩ.
Sau khi sinh, tử cung mở to, tăng áp lực khoang chậu, tụ máu sưng phù tĩnh mạch ở phần hậu môn.
Trong quá trình vượt cạn, việc rặn sinh làm tăng áp lực lên ổ bụng, khiến búi trĩ dễ sa ra ngoài. Đối với một số trường hợp khi sinh con, bị rạch tầng sinh môn, khi khâu, sản phụ có thể bị khâu chít vào một số mạch máu ở hậu môn, dẫn đến trĩ.

Phụ nữ mang thai làm gì để ngừa bệnh trĩ?

Tuân thủ chế độ dinh dưỡng hợp lý, nên ăn nhiều rau, củ, quả, không ăn nhiều muối, nhiều đường, không sử dụng thức ăn có chất kích thích. Khi đã bị bệnh trĩ, cần vệ sinh sạch sẽ vùng hậu môn bằng nước ấm sau khi đi vệ sinh, tránh ngồi xổm, thường xuyên thể dục với các động tác nhẹ nhàng như đi bộ, yoga,… Phụ nữ mang thai không nên tự ý uống thuốc điều trị vì phần lớn các loại thuốc đều ít nhiều ảnh hưởng không tốt đến thai nhi (trừ các thuốc chứa vi chất dinh dưỡng). Chỉ nên dùng thuốc trị bệnh trĩ từ sau khi sinh, càng sớm càng tốt để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh.

BỆNH TRĨ Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Người có tuổi và cao tuổi, nguyên nhân phát sinh bệnh trĩ có những điểm riêng biệt. Cùng với quá trình thoái hóa chung của cơ thể, cấu trúc giải phẫu và chức năng sinh lý của hệ thống tiêu hóa cũng dần dần lão suy. Chức năng co bóp, bài tiết và hấp thu của ruột yếu đi khiến cho tình trạng rối loạn đại tiện rất dễ phát sinh; trương lực cơ trơn đại tràng, cơ thắt hậu môn và dây chằng bị suy giảm, hệ thống tĩnh mạch hậu môn trực tràng bị suy yếu… Điều đó làm cho người già rất dễ mắc bệnh trĩ với những đặc điểm như:
(1) Rất ít trĩ đơn thuần mà đa số là trĩ hỗn hợp;
(2) Búi trĩ dễ bị sa xuống, xuất huyết và xơ hóa;
(3) Trị liệu thường khó khăn vì sức đề kháng kém do mắc nhiều bệnh mạn tính. Bởi vậy, để nâng cao chất lượng cuộc sống, việc phòng ngừa bệnh trĩ ở người già là hết sức cần thiết.

Chế độ ăn uống

Cổ nhân có câu “bệnh tòng khẩu nhập” (bệnh theo miệng mà vào), điều đó rất đúng đối với bệnh trĩ.
Bởi vậy, để dự phòng căn bệnh này cần hết sức chú ý điều chỉnh chế độ ăn uống. Trước hết, phải
điều độ và đúng giờ giấc, không ăn quá no và cũng không để quá đói. Điều này giúp cho hệ thống tiêu hóa hoạt động được bình thường, đúng quy luật và có hiệu quả, đặc biệt đối với người già.

 

Phòng ngừa bệnh trĩ ở người cao tuổi

Chế độ sinh hoạt

Hết sức tránh đứng lâu, ngồi lâu, không nên ngồi xổm vì có thể ảnh hưởng đến sự tuần hoàn máu ở
khoang xương chậu làm cho ứ máu tại các tĩnh mạch trĩ. Nên tập thói quen đi đại tiện đúng giờ, tốt nhất mỗi ngày nên đi một lần. Hết sức chú ý vệ sinh tầng sinh môn, nhất là sau khi đại tiện. Mỗi ngày nên ngâm nước ấm vùng hậu môn chừng 15 – 20 phút. Không hút thuốc lá và uống rượu

 

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ TRĨ

Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ:

-Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày. – Điều chỉnh thói quen ăn uống: + Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà. + Tránh các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu. + Uống nước đầy đủ. + Ăn nhiều chất xơ. – Vận động thể lực: Nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ… – Điều trị các bệnh mãn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ

Điều trị nội khoa:

– Vệ sinh tại chỗ tốt bằng phương pháp ngâm nước ấm 2 – 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút.
– Thuốc uống: Gồm các thuốc có tác nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của
các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động
kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch. Ngoài ra bệnh nhân có thể sử dụng thuốc
bào chế từ dược liệu như : hòe giác, phòng phong, đương quy, chỉ xác, hoàng cầm, địa du.. có tác
dụng rất tốt trường hợp trĩ nội, trĩ ngoại, trĩ hỗn hợp, đặc biệt trĩ huyết.

Điều trị bằng thủ thuật:

a- Chích xơ: Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ 1 và trĩ độ 2
b- Thắt trĩ bằng vòng cao su: Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ định điều trị trĩ nội độ 1 và 2
c- Quang đông hồng ngoại: Quang đông hồng ngoại được chỉ định với trĩ nội độ 1 và độ 2
d- Phẫu thuật cắt trĩ : Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc, Phẫu thuật cắt từng búi trĩ, PT Longo, Khâu
treo trĩ bằng tay, Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler…

 

 

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG VÀ LUYỆN TẬP ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BỆNH TRĨ

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỆNH TRĨ

Thực phẩm nên ăn

1. Hãy uống nhiều nước : 1.5 đến 2 lít, nên uống nhiều nước trái cây, nước rau quả , súp rau…Ngoài ra nên ăn loại thức ăn lỏng dễ tiêu hóa.Khi bạn ăn uống như vậy, chắc chắn phân sẽ lỏng hơn. Bạn thường chỉ khó chịu khi phân quá cứng, quá đặc.
2. Ăn thức ăn có nhiều chất xơ
Ngoài ra, bệnh nhân nên tăng cường chất xơ trong chế độ ăn vì chất xơ tham gia trữ nước đáng kể trong ruột, làm phân dễ bở ra nên dễ dàng khi di chuyển.Các loại rau quả, ngũ cốc là ứng cử viên số một cung cấp chất xơ như đậu phụ, ngũ cốc xay, cà rốt, chuối măng, quả mơ, súp lơ, cam, quýt, dâu tây…
3. Thực phẩm nhuận tràng
Một số loại rau có tính nhuận tràng tốt như rau lang, rau mồng tơi, rau đay, rau diếp cá, rau dền nên dùng nấu canh ăn thường xuyên rất tốt cho người bệnh trĩ. Các loại quả có tính nhuận tràng tốt như: chuối, khoai lang, măng…. Bên cạch đấy Magie cũng là một chất có tác dụng giúp nhuận tràng và hạn chế táo bón. Một số thức ăn giàu magie: cá bơn, quả hạnh sấy khô, hạt điều sấy khô, đậu nành, rau chân vịt, bột yến mạch, bơ lạc, quả bơ, nho khô không hạt…
4. Thức ăn nhiều chất sắt
Do bệnh trĩ gây mất máu mạn tính nên người bệnh dễ bị thiếu máu, vì vậy nên chế độ ăn cho
bệnh nhân trĩ cần bổ sung nhiều thực phẩm giàu chất sắt như: Gan gà, cua hấp, cá ngừ, mận,mơ khô, nho khô, hạt hướng dương, hạt điều, hạnh nhân, mè, khoai tây luộc, rau bó xôi, bông cải xanh nấu chín, dưa đỏ, rau cần, mộc nhĩ đen (nấm mèo đen), vừng (mè đen), … Ruột già của lợn, dê: Có tác dụng cầm máu, chống đau, tiêu hóa tốt. Quả óc chó: Có tác dụng nhuận tràng, giảm búi trĩ thòi ra ngoài, và hiện tượng đại tiện ra máu.

Thực phẩm nên tránh

Hạn chế ăn muối và kiêng các chất gia vị cay, nóng, cà phê, rượu, những thực phẩm chứa
chất cafein.
Muối có khuynh hướng giữ nước lại trong cơ thể, làm các tế bào và mạch máu trương căng
ra, làm nặng hơn triệu chứng trĩ.
Những gia vị cay, nóng như: Ớt, hồ tiêu, hành… gây kích ứng niêm mạc dạ dày, ruột và
thường tạo cảm giác khó chịu khi phân đi qua hậu môn.
Nước ngọt có ga vì làm tăng áp lực trong khung ruột.

NHỮNG BÀI TÂP DÀNH CHO NGƯỜI BỆNH TRĨ

1. Bài tập đứng nhón gót co hậu môn : 2 tay chống eo, 2 chân đan chéo, nhón gót, đồng thời nâng hậu môn (nhíu hậu môn lại), duy trì trong 5 giây, trở về ban đầu, lặp lại 10-20 lần, thở bình thường.

2. Bài tập ngồi đứng dậy nâng cơ hậu môn : 2 chân đan chéo, sau đó 2 tay chống eo và đứng dậy, đồng thời nhíu hậu môn lên, duy trì trong 5 giây, rồi thả lỏng ngồi xuống, lặp lại 10-20 lần.

3. Bài tập nằm ngửa khép chân nhíu hậu môn : 2 chân đan chéo, vùng mông và đùi dùng sức kẹp chắc, dùng sức nâng hậu môn lên, duy trì khoảng 5 giây, lặp lại 10-20 lần.

4. Bài tập nằm ngửa gắp đùi nâng hậu môn: Co gối, hai gót chân cố gắng đặt sát vào mông, hai mông phẳng với thân, chống đỡ bởi lòng bàn chân và vùng mông, nâng xương chậu ưỡn lên, đồng thời nhíu hậu môn, duy trì 5 lần, trở lại tư thế ban đầu, lặp lại 10-20 lần.

5. Bài tập co thắt hậu môn : Thả lỏng cơ bắp toàn thân, tập trung tinh thần về vùng bụng dưới. Hít vào từ từ, khép và ép chặt hai bên mông, đùi lại với nhau, lưỡi cong đưa lên áp vào hàm trên. Cùng lúc co thắt và thót vùng hậu môn lại như khi nhịn đại tiện. Nín thở và giữ nguyên tư thế này trong vài giây rồi từ từ thở ra, thả lỏng cơ vùng hậu môn về bình thường, lưỡi đưa xuống. Làm khoảng 20 – 30 lần, mỗi ngày tập 2 – 3 lần.

6. Bài tâp đi bộ : Thẳng người, hàm khép hờ, hai tay buông thõng tự nhiên, bàn tay nắm hờ, tập trung ý nghĩ vào vùng đan điền (vùng bụng dưới gần xương mu, là vùng tập trung khí của cơ thể). Các ngón chân cong gập bám chặt mặt đất. Vừa thót hậu môn vừa đi bộ từng bước nhẹ nhàng, thở đều. Ði bộ trong tư thế như vậy khoảng 3 – 5 phút. Sau đó giãn hậu môn về như cũ, thả lỏng các ngón chân, đi bộ đều khoảng 1 – 2 phút lại tiếp tục vừa đi bộ vừa thót hậu môn như trên. Mỗi lần tập khoảng 30 phút, ngày 1 – 2 lần.

7. Bài tập tăng cường tiêu hóa : Ðứng thẳng, hai chân dang rộng bằng vai, các ngón chân bám chặt mặt đất, hai tay buông xuôi, bàn tay nắm hờ. Từ từ uốn cong gối như xuống tấn, lưng thẳng. Miệng khép, đưa lưỡi sát vòng quanh vòm miệng trên – dưới. Khi nước bọt tiết đầy miệng, hít sâu nhẹ nhàng, lưỡi đặt lên hàm trên, nuốt từ từ, đồng thời thót hậu môn lại, nín thở giữ tư thế đó vài giây. Thở ra, thư giãn để chuẩn bị lần tiếp theo. Làm như vậy khoảng 20 lần, kết thúc bài tập nên đi bách bộ trong 30 phút. Mỗi ngày tập hai lần. Bài tập này còn có tác dụng tăng cường, kích thích tiêu hóa, làm cho ăn uống ngon miệng hơn.

8. Bài tập vùng đan điền : Nằm ngửa trên giường, hai chân duỗi thẳng, khép vào nhau, hai tay xuôi dọc theo thân mình. Mắt nhắm hờ tập trung ý nghĩ về vùng đan điền (vùng bụng dưới). Hít vào từ từ đồng thời thót hậu môn, siết chặt hai bàn tay, cắn chặt hai hàm răng, cong gập hết cỡ các ngón chân lên phía đầu. Giữ tư thế này khoảng 3 – 5 giây, thở ra từ từ thả lỏng toàn bộ cơ bắp. Làm khoảng 5 – 10 phút. Mỗi ngày tập 2 – 3 lần.